
Ảnh :TL
Sáng 10-3, quân Nhật làm chủ hoàn toàn thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, kiểm soát toàn bộ các đồn bốt, công sở, đường giao thông.
Ngày 11-3, Vua Bảo Ðại theo lệnh Nhật đã triệu tập Hội đồng cơ mật của triều đình Huế, ra tuyên bố "Việt Nam độc lập", xóa bỏ những hiệp ước đã ký với Pháp và xác lập quan hệ với chính phủ Nhật Bản để xây dựng "khối thịnh vượng chung đại Ðông Á" .
Ngày 16-3, nội các Phạm Quỳnh, tay sai Pháp phải từ chức. Bảo Ðại theo lệnh Nhật lập nội các mới.
Ngày 17-3, chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập. Sự ra đời của nội các này kéo theo sự xuất hiện nhiều tổ chức thân Nhật. Nhóm anh em Ngô Ðình Nhu, Ngô Ðình Diệm ráo riết hoạt động, chuẩn bị đưa Cường Ðể về thay Bảo Ðại. Các tổ chức "Ðại Việt Quốc Gia liên minh", "Ðại Việt Duy tân", "Quốc Dân Ðảng" thi nhau hoạt động.
Lúc này, ở Huế có một nhóm trí thức, phần lớn là giáo viên, một số "chính trị phạm" vừa ra tù nhưng chưa bắt liên lạc với tổ chức như Tôn Quang Phiệt, Ðào Duy Anh, Hoài Thanh, Trần Hữu Duật... thành lập tổ chức có tên là "Hội tân Việt Nam", Hội tân Việt Nam vừa ra đời đã thu hút được nhiều người trong tầng lớp trí thức như bác sĩ, kỹ sư, nhà giáo, công chức và một số thanh niên học sinh tham gia. Ðược chính phủ Trần Trọng Kim làm hậu thuẫn. Hội Tân Việt Nam đã tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại sân vận động thành phố. Những người tham gia mít tinh hô vang các khẩu hiệu:
- Ðả đảo chính sách xâm lược, hoan hô chính sách giải phóng.
- Nước Việt Nam của người Việt Nam - Hoan nghênh chính sách giải phóng của Nhật và Nga. Phát xít Nhật và nội các Trần Trọng Kim mưu đồ sử dụng tổ chức này để gây thanh thế chính trị làm hậu thuẫn cho chúng, do đó Hội tân Việt Nam được hoạt động công khai.
Ngày 23-5-1945, hội nghị cán bộ toàn tỉnh được triệu tập tại đầm Cầu Hai (Phú Lộc). Thành phần hội nghị bao gồm các đồng chí trong Tỉnh ủy, những đại biểu tiêu biểu của phong trào ở các huyện và thành phố, các đồng chí cựu "chính trị phạm" được tổ chức Ðảng trong nhà lao giới thiệu. Sau ba ngày thảo luận nghiêm túc, sôi nổi và đầy trách nhiệm hội nghị thống nhất những vấn đề lớn sau đây:
Về thời cơ khởi nghĩa, có thể xảy ra 2 khả năng, hoặc là khi quân đồng minh vào trực tiếp đánh Nhật, hoặc quân đồng minh chưa vào nhưng Nhật đầu hàng. Dù trong trường hợp nào, có khi thời cơ đến chúng ta sẽ cùng cả nước khởi nghĩa giành chính quyền để khi quân đồng minh vào nhân dân ta đã làm chủ đất nước. Trước mắt phải tập trung cao độ vào việc chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị căn cứ địa Cách mạng để chống địch lâu dài.
Về công tác tổ chức, cần đặt rõ trách nhiệm cho cán bộ đảng viên mạnh dạn tiếp xúc rộng rãi với quần chúng, tuyên truyền chính sách đoàn kết cứu nước của Mặt trận Việt Minh. Ðẩy mạnh xây dựng các cơ sở của Việt Minh trong thanh niên, học sinh, công chức, binh lính, thân sĩ trí thức...
Cuối tháng 6 năm 1945, Ban lãnh đạo hai tổ chức Việt Minh họp tại Huế. Ðại diện cho Việt Minh Nguyễn Tri Phương là các đồng chí Hoàng Anh, Nguyễn Dĩnh và Lê Tự Ðồng. Ðoàn Việt Minh Thuận Hóa gồm các anh Nguyễn Tấn, Nguyễn Kèn (tức là Nguyễn Thế Lâm), Phan Tử Quang và Lê Khánh Khang. Cuộc họp quyết định sát nhập tổ chức Việt Minh Thuận Hóa vào Việt Minh Nguyễn Tri Phương, thống nhất kế hoạch và phương hướng hoạt động nhằm tập hợp lực lượng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Các anh Nguyễn Tấn, Nguyễn Kèn, Lê Khánh Khang đều được bổ sung vào Ban Chấp hành Việt Minh Nguyễn Tri Phương.
Ðúng như dự đoán, ngày 15-8-1945 phát xít Nhật đầu hàng Ðồng Minh, được tin này, dưới danh nghĩa Việt Minh Nguyễn Tri Phương, Thường vụ Tỉnh ủy triệu tập hội nghị cán bộ toàn tỉnh tại nhà ông Tố Tuân và bà Phan Thị Luận (phường Phú Bình- Huế). Hội nghị hoàn toàn nhất trí với chủ trương khởi nghĩa và quyết định chọn huyện Phú Lộc để phát động chính quyền giành chính quyền trước nhằm rút kinh nghiệm cho các huyện khác, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho Huế tiến hành khởi nghĩa.
Ngày 20 tháng 8 năm 1945, đoàn cán bộ của trung ương gồm các đồng chí Tố Hữu, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Duy Trinh đến Huế tham gia chỉ đạo khởi nghĩa. Trong ngôi nhà ông Thuật (cửa Thượng Tứ), thường vụ Việt Minh tỉnh báo cáo với đoàn tình hình chung trong tỉnh, thái độ của quân đội Nhật và chính phủ Trần Trọng Kim, dự kiến của Thường vụ Việt Minh tỉnh về kế hoạch khởi nghĩa ở Huế.
Các đồng chí trong đoàn hoàn toàn thống nhất kế hoạch đó và ngay trong ngày 20-8 thành lập ủy ban Khởi nghĩa gồm các đồng chí: Tố Hữu - Chủ tịch, Hoàng Anh - Phó chủ tịch. Tham gia Ủy viên Ủy ban Khởi nghĩa là các đồng chí: Lê Tự Ðồng, Lê Khánh Khang, Hoàng Phương Thảo, Nguyễn Sơn...
Tối 21-8, hội nghị cán bộ phổ biến kế hoạch, giao nhiệm vụ cho các huyện, thành phố và từng cán bộ trong việc tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế vào ngày 23-8-1945. Ngày đó, chính phủ Trần trọng Kim có kế hoạch tổ chức cuộc mít tinh lớn ở sân vận động Huế để mừng việc Nhật trả quyền cai trị Nam Kỳ cho triều đình Huế.
Ðây là cố gắng cuối cùng của chính phủ Trần Trọng Kim, là một hành động có tính thách thức đối với Việt Minh. Tương kế, tựu kế, ta quyết định khởi nghĩa vào đúng ngày 23-8.
Ủy ban Khởi nghĩa sắp xếp kế hoạch huy động quần chúng ở các huyện tập trung về Huế, quần chúng các phường của thành phố tham gia mít tinh tuần hành trong ngày 23-8. Các đoàn thể có nhiệm vụ chiếm giữ các cơ quan, công sở, kho tàng của nhà nước. Lực lượng vũ trang bao gồm các đội tự vệ, các đội lính bảo an ta đã nắm được và học viên trường Thanh Niên tiền tuyến làm nhiệm vụ bảo vệ quần chúng tuần hành, bảo vệ cuộc mít tinh ở Huế.
Cuộc họp này thống nhất cử Ủy ban Nhân dân Cách mạng Lâm thời tỉnh Thừa Thiên Huế do ông Tôn Quang Phiệt làm chủ tịch. Tại các huyện, khí thế cách mạng quần chúng sôi sục.
Từ ngày 18 đến 22-8-1945, thực hiện quyết định của hội nghị mở rộng ngày 15-8, các Ủy ban Khởi nghĩa đã tổ chức lực lượng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.
Ở huyện Phong Ðiền: ngày 18-8-1945 nhân dân và tự vệ hai tổng Phò Ninh và Hiền Lương nổi dậy giành chính quyền ở xã, tổng. Ngày 19-8, nhân dân các tổng Phò Trạch, Chánh Lộc, Phong Thu, Vĩnh Xương... giành chính quyền ở Ưu Ðiềm, tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng.
Ở huyện Phú Lộc: trong ngày 19-8 nhân dân toàn huyện đã tuần hành vũ trang từ An Cư ra An Nông, Lương Ðiền vào Từ Diêm Trường, vượt phá Cầu Hai sang, tiến về bao vây huyện đường và tuyên bố giải tán Chính quyền bù nhìn, lập chính quyền cách mạng của nhân dân.
Ở huyện Hương Thủy: ngày 20-8 ủy ban khởi nghĩa huyện tập hợp nhân dân tại 3 điểm: đình làng Thanh Thủy thượng, đình làng Thần Phù và đình làng Bãng Lãng. Sau đó giương cờ, gióng trống với vũ khí thô sơ kéo đi giành chính quyền ở tổng xã. Ngày 22-8 tập trung toàn bộ lực lượng giành chính quyền ở huyện, thành lập Ủy ban cách mạng lâm thời.
Ở huyện Phú Vang: ngày 21-8, nhân dân đã giành chính quyền ở 3 tổng Mậu Tài, Ngọc Anh, Dương Nổ. Ngày 22-8 hơn 5000 người đại diện cho toàn thể nhân dân Phú Vang, hàng ngũ chỉnh tề có mặt tại huyện đường giành chính quyền về tay nhân dân lao động.
Ở Quảng Ðiền: ngày 23-8-1945, hàng vạn quần chúng cả 5 tổng đã rầm rộ kéo về giành chính quyền tại quận lỵ Hạ Lang, chấm dứt ách áp bức bóc lột phong kiến nặng nề và tàn bạo.
Ở huyện Hương Trà: ngày 23-8-1945 Ủy ban khởi nghĩa đã huy động hơn 1 vạn quần chúng 6 tổng về khởi nghĩa giành chính quyền tại Bao Vinh. Sau đó kéo về giành chính quyền ở tỉnh.
Tại Huế: từ ngày 21-8-1945 các đội tự vệ, các đoàn thể cứu quốc có trang bị vũ khí thô sơ, giương cờ, biểu ngữ, biểu tình thị uy qua các đường phố. Các trại lính bảo an đã được chuẩn bị tham gia phong trào khởi nghĩa. Bọn lính Nhật hoảng sợ không dám hành động. Chiều ngày 21-8 đơn vị tự vệ khu phố Phú Bình đã chiếm được vòng ngoài ở đồn Mang Cá.
Ðêm 22-8, trước áp lực của cuộc khởi nghĩa, Bảo Ðại, vị vua cuối cùng của triều đình phải cuối đầu tuyên bố: "Nhường quyền lãnh đạo quốc gia cho Việt Minh". Ủy ban Khởi nghĩa không đồng ý và yêu cầu:
- Nhà vua phải báo cho Nhật biết là triều đình đã giao tất cả quyền binh cho Chính quyền Cách mạng và điện cho các Tỉnh trưởng giao quyền cho Việt Minh.
- Nhà vua phải giao lại cho chính quyền cách mạng đội lính khố vàng, với tất cả trang bị vũ khí đạn dược.
- Chính quyền cách mạng hứa sẽ bảo đảm an toàn tính mạng và quyền công dân cho Bảo Ðại. Những tài sản trong hoàng cung đều thuộc quyền sở hữu của nhân dân. Một số tài sản riêng Bảo Ðại được phép mang theo để sử dụng. Các lăng tẩm triều Nguyễn từ nay thuộc tài sản quốc gia. Những người trong hoàng tộc trước đây lo lăng tẩm nay được lại tiếp tục làm việc cho chế độ mới.
Nhận được "tối hậu thư", Bảo Ðại triệu tập họp nội các. Nhà vua và những người dự họp đã nhất trí chấp nhận những điều kiện của Việt Minh đưa ra và sẽ từ bỏ ngai vàng bằng hình thức thoái vị
16 giờ ngày 23-8, tại sân vận động Huế, hàng vạn nhân dân Thừa Thiên Huế đã tập trung hàng ngũ chỉnh tề dưới rừng cờ sao vàng phấp phới, Ủy ban Khởi nghĩa tiến vào lễ đài giữa tiếng hoan hô vang dội cả một góc trời. Ðồng chí Tố Hữu đọc diễn văn nêu rõ tầm vóc, ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa và tuyên bố từ nay chính quyền về tay nhân dân. Ðồng chí trân trọng giới thiệu Ủy ban Nhân dân Cách mạng Lâm thời tỉnh do ông Tôn Quang Phiệt làm chủ tịch, đồng chí Hoàng Anh - Phó chủ tịch.
Phái đoàn Trung ương do đồng chí Trần Huy Liệu làm trưởng đoàn, đồng chí Nguyễn Lương Bằng và đồng chí Cù Huy Cận được cử vào Huế tiếp nhận sự thoái vị của Bảo Ðại.
Ngày 28-8-1945, nhân dân Thừa Thiên Huế mít tinh tại sân vận động Huế để chào mừng phái đoàn của Trung ương. Từng tràng vỗ tay kéo dài khi nghe đồng chí trưởng đoàn thông báo cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi rực rỡ trên phạm vi toàn quốc và giới thiệu Ủy ban dân tộc giải phóng là Chính phủ Cách mạng Lâm thời do cụ Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Chiều 29-8, tại điện Kiến Trung, phái đoàn Trung ương tuyên bố với Bảo Ðại những điều khoản cần thiết và bàn về thủ tục thoái vị.
Theo đúng chương trình, chiều 30-8, lễ thoái vị của Bảo Ðại, vị vua cuối cùng của triều đại phong kiến cuối cùng đã được tổ chức tại lầu Ngọ Môn trong kinh thành Huế.
Ðại biểu nhân dân 6 huyện Phú Vang, Phú Lộc, Hương Trà, Hương Thủy, Phong Ðiền, Quảng Ðiền, cùng với đại biểu các tầng lớp nhân dân thành phố đã tập hợp đông đủ, hàng ngũ chỉnh tề trên quãng sân rộng từ trước cửa Ngọ Môn đến chân Cột Cờ.
Ðúng 13 giờ, Bảo Ðại bịt khăn vàng, mặc áo vàng cùng một số Bộ trưởng trong Chính phủ Trần Trọng Kim và đại diện hoàng gia đứng ra phía trái lầu Ngọ Môn. Ðoàn đại biểu của Chính phủ Lâm thời Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đứng bên phải. Bảo Ðại đọc thoái vị và trao lại cho đại diện chính phủ Quốc ấn bằng vàng và một thanh gươm bằng vàng nạm ngọc tượng trưng cho quyền lực của chế độ phong kiến.
Trên kỳ đài Huế, cùng với bản nhạc hùng tráng "Tiến quân ca", lá cờ đỏ sao vàng từ từ kéo lên phần phật bay giữa trời Huế tự do độc lập. Tiếng hô khẩu hiệu vang trời "Việt Nam độc lập muôn năm", "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm". Chế độ phong kiến giờ đây vĩnh viễn cáo chung.
Ðảng bộ và nhân dân Thừa Thiên Huế tự hào đã trao cho Tổ quốc một kinh đô xưa, từ nay thuộc về nhân dân lao động.
PV
(Theo Lịch sử Đảng bộ Thừa Thiên Huế ) |